Trợ lý ảo đã giết chết tự động hóa như thế nào?
trợ_lý_ảo_giết_chết_con_ngươi_thế_nào

Trợ lý ảo đã giết chết tự động hóa như thế nào?

trợ_lý_ảo_giết_chết_con_ngươi_thế_nào

Khi Thiết bị cảm biến nhiệt độ tự học Nest được giới thiệu trên thị trường smart phone vào gần 1 thập kỷ trước, nó đã làm thay đổi quan điểm của chúng ta về những công nghệ thuộc lĩnh vực này. Quả nhiên, thiết bị cảm biến với giá gần 6 triệu đồng này đã dần học được cách làm người dùng thoải mái hơn và tiết kiệm chi phí hơn. Đây cũng là một dấu hiệu tích cực cho lĩnh vực tự động hóa, giúp tạo ra một căn nhà có thể tự chăm sóc chính nó, cũng như chủ nhân.

Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, một thiết bị mang tên Amazon Echo đã xuất hiện. Mới đầu, chiếc loa thông minh này không có gì đặc biệt ngoại trừ trợ lý ảo Alexa. Và thậm chí, theo Phó chủ tịch Bộ phân Phần mềm cho Thiết bị và Dịch vụ Amazon, ông Robert Williams, chính những nhà phát triển ra nó cũng không hề nhận ra tiềm năng của Alexa tại thời điểm này. Vậy mà tới năm 2020, điều khiển bằng giọng nói đã trở thành một tính năng tất yếu của các thiết bị gia dụng, và Alexa đã được tích hợp với trên 100.000 thiết bị.

Như vậy, hiện tại có 2 cách tiếp cận đối nghịch nhau trong lĩnh vực smart home: trong khi tự động hóa muốn hạn chế tối đa việc nhà phải làm, thì trợ lý giọng nói lại thay đổi công cụ để thực hiện chúng, cho con người một vai trò tích cực hơn. Hiện tại, trong trận chiến này thì Alexa và Google Assistant đang giành ưu thế, và điều này không phải là không có lý do: chúng tạo ra một viễn cảnh tương lai nhiều cảm hứng hơn.

Những vấn đề của tự động hóa

Về lý thuyết thì tự động hóa rất tuyệt vời: một căn nhà có thể tự làm mọi việc, đồng thời loại bỏ những việc nhỏ nhặt tốn thời gian. Dường như, ai cũng sẽ lựa chọn tự động hóa, bởi lẽ với nó, ta sẽ không còn phải tới từng phòng để tắt đèn, phải ra mở cửa chính cho trẻ con, phải chịu cái lạnh khi về nhà sau khi tắt cảm biến nhiệt để đi du lịch, và phải mò mẫm trong bóng tối để tìm đồ cho trẻ vào ban đêm.

Một số thiết bị sẽ giúp giải quyết những điều này – như đèn ban đêm của máy phát hiện khói Nest, hay chức năng tự học của Thiết bị cảm biến nhiệt cùng hãng – song việc tự động hóa triệt để vẫn còn rất xa vời. Cụ thể, các đèn thông minh cảm biến theo chuyển động và ổ cắm thông minh chạy Bluetooth thường rất khó để hoạt động nhuần nhuyễn bên trong nhà. Ngoài ra, tất cả những tự động hóa này vẫn cần yếu tố con người.

Khi mua laptop và điện thoại, các thiết bị này thường được lập trình sẵn. Tuy nhiên, nếu ta muốn tự động hóa nhà ở, thì chính chúng ta mới là người thực sự thực hiện việc “lập trình”. Tuy rằng cảm biến nhiệt của Nest có khác biệt ở chỗ nó có thể tự học, song đa số các thiết bị tự động trên thị trường hiện này đều yêu cầu người dùng phải tự cài đặt thói quen của họ, như “Bật đèn và mở rèm sau khi tôi mở cửa gara,” hay, “Tắt hết đèn và khóa hết cửa vào 11 giờ tối.”

Các thói quen này quả nhiên rất hữu dụng, tuy nhiên, việc cài đặt và theo dõi chúng lại rất mệt mỏi. Ngoài ra, sẽ luôn có những trường hợp mà thói quen không áp dụng, và người dùng hoàn toàn có thể bị khóa ở ngoài vào ban đêm khi đi đổ rác. Và đó là còn chưa kể tới các đặc tính riêng của những nền tảng thiết lập thói quen này. (Ví dụ như Google Assistant không cho phép xóa thói quen đã lưu.)

Một vấn đề quan trọng hơn của tự động hóa nhà ở lại nằm ở mặt triết học. Trong khi tự động hóa nhắm vào những điều mà chúng ta luôn làm tại nhà – như mở rèm, bật/tắt đèn, khóa cửa – và làm những công việc này dễ dàng hơn, thì Alexa và Google Assistant lại nhìn về tương lai – những gì mà ta có thể làm. Chính vì vậy, cách tiếp cận này đang mong đợt hơn.

Tự động hóa mang tiềm năng trong cả những tác vụ đời thường (bật đèn khi có người vào phòng), cho tới những tác vụ mang tầm nhìn lớn hơn (giảm khả năng bị đột nhập, và giảm tổn thất khi bị đột nhập). Ý tưởng điên rồ phía sau trợ lý giọng nói của một thập kỷ trước, đã dần xâm nhập vào quan điểm về tự động hóa của doanh nghiệp.

Trong đó, phòng bếp là một minh chứng lớn: những dòng thiết bị smart kitchen mới đang giúp tự động hóa rất nhiều quy trình nấu ăn – như so sánh thành phần nguyên liệu trong tủ lạnh với công thức trên mạng, từ đó đưa danh sách các món có thể nấu, làm nóng lò nướng tự động khi người dùng bắt đầu chuẩn bị, hay thậm chí là sử dụng camera để báo hiệu khi thịt chín.

Những ví dụ gần đây của tự động hóa rất hứa hẹn: rằng khi căn nhà trở nên kết nối hơn với chính nó và cả chúng ta, thì những nhà phát triển trong mọi lĩnh vực – chứ không chỉ là trợ lý giọng nói – sẽ bắt đầu tiến về tương lai để tái định nghĩa lại công việc trong nhà, thay vì cố gắng tối ưu hóa chúng.


Theo CNet

Để lại một bình luận

Your email address will not be published.

TOP

X